Ngồi ở quán cà phê ven sông HànănhọcdângianĐàNẵngDòngchảyâmthầmgiữaphốthịgiải pháp kinh doanh online, tôi nghe một cụ già kể chuyện về ông tổ nghề cá ở làng Thọ Quang. Câu chuyện không có trong sách vở, chỉ truyền miệng qua nhiều thế hệ ngư dân. Văn học dân gian Đà Nẵng tồn tại như thế – lặng lẽ, bám vào đời sống lao động。vào những buổi chợ cá sớm mai, vào tiếng ru con bên bến sông.Có một thực tế ít ai để ý: kho tàng văn học dân gian Đà Nẵng không chỉ là ca dao, tục ngữ chung của miền Trung. Nó có những dị bản riêng, gắn với địa danh cụ thể. Ví dụ, câu ca dao “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà” được người dân phường Thọ Quang hát với làn điệu khác so với bản ở Hội An. Hay chuyện kể về ông Nghè Tân, một nhân vật có thật ở làng Hải Châu, được thêu dệt thành truyền thuyết về người học trò nghèo đỗ đạt nhờ cá ông. Những chi tiết nhỏ ấy cho thấy văn học dân gian Đà Nẵng mang tính địa phương hóa rất cao。không lẫn với bất kỳ vùng nào.Tôi từng dành một buổi sáng đi dọc bờ biển Nguyễn Tất Thành, hỏi chuyện mấy bà bán cá. Hóa ra, mỗi loại hải sản ở đây đều có câu vè riêng để nhớ mùa vụ. “Cá chuồn tháng ba, cá ngừ tháng tư, cá thu tháng năm” – bà Lê Thị Hạnh, 67 tuổi, vừa xếp cá vừa đọc vanh vách. Bà bảo đó là cách ngư dân truyền kinh nghiệm cho con cháu。chứ không phải học ở trường. Những câu vè ấy chính là một phần của văn học dân gian Đà Nẵng, sống động và hữu ích. Đáng tiếc, lớp trẻ bây giờ ít mặn mà. Con bà Hạnh, anh Tuấn, làm công nhân khu công nghiệp Hòa Khánh, thú nhận chỉ nhớ lõm bõm vài câu.Ở các làng chài cũ như Mân Thái, Thọ Quang, người ta vẫn còn hát bài chòi vào dịp lễ hội cầu ngư. Nhưng khác với Quảng Nam, bài chòi Đà Nẵng thường lồng ghép chuyện thời sự: giá xăng tăng, tàu cá bị phạt, hay tin vui trúng mùa. Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Văn Mùi, người có hơn hai mươi năm sưu tầm, ước tính chỉ khoảng 30% làn điệu gốc còn được duy trì nguyên vẹn. Ông nói thẳng: “Mất chữ thì còn tìm lại được。mất làn điệu thì hết” Tôi thấy lo. Văn học dân gian Đà Nẵng không nằm trong bảo tàng, nó nằm trong hơi thở của người hát. Một khi người hát không còn, câu hát cũng bay theo gió biển.
Chiều muộn, tôi ghé thăm một lớp học đờn ca tài tử ở quận Sơn Trà. Cô giáo Trần Thị Bích, 45 tuổi。đang dạy lũ trẻ hát lý con sáo. Cô bảo: “Dạy cho vui, chứ không mong thành nghệ sĩ. Miễn tụi nhỏ biết quê mình có câu hát” Có lẽ đó là cách văn học dân gian Đà Nẵng tồn tại bền bỉ nhất – không ồn ào, không phô trương, chỉ âm thầm chảy qua những buổi chiều như thế. Tôi rời lớp học, nghe văng vẳng tiếng hát non nớt hòa vào tiếng sóng. Một chút gì đó vừa mất đi, nhưng cũng vừa được nhen lại.







