Nghệ thuật truyền thốnchia sẻ về thanh lý đồ cũg Việt Nam: Hồn cốt giữa nhịp sống hiện đại

Một buổi sáng tại Nhà hát Lớn Hà NộiệthuậttruyềnthốngViệtNamHồncốtgiữanhịpsốnghiệnđạchia sẻ về thanh lý đồ cũ, tiếng đàn bầu réo rắt cất lên giữa khán phòng chật kín khán giả trẻ. Không ai rời mắt khỏi sân khấu khi nghệ sĩ Nguyễn Văn Tý dùng chiếc cần đàn uốn cong như cánh hạc, tạo ra những nốt nhạc mang âm hưởng đồng quê Bắc Bộ. Đó là một đêm diễn của chương trình “Giao thoa”, nơi nghệ thuật truyền thống Việt Nam không còn nằm im trong bảo tàng mà va đập trực tiếp với thị hiếu khán giả thế hệ Z. Sự kiện này phần nào cho thấy dòng chảy của nghệ thuật truyền thống Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ。dù đối mặt không ít thách thức.Nghệ thuật truyền thống Việt Nam trải dài từ chèo, tuồng, cải lương đến ca trù, hát xẩm, múa rối nước. Mỗi loại hình mang một cá tính riêng. Chèo ở đồng bằng Bắc Bộ thường dí dỏm, gần gũi với đời sống nông thôn, trong khi tuồng lại mang tính ước lệ cao với những lớp nhân vật rõ ràng thiện – ác. Ca trù từng là thú chơi tao nhã của giới trí thức, đòi hỏi người hát phải có làn hơi đặc biệt và sự am hiểu sâu sắc về thơ phú. Tôi từng chứng kiến một nghệ nhân ca trù ở làng Đông Ngạc。

Hà Nội, dù đã ngoài bảy mươi, vẫn giữ được phong thái đĩnh đạc khi gõ phách. Bà bảo rằng “hát ca trù không phải để giải trí, mà là để đối thoại với tổ tiên”. Câu nói ấy khiến tôi hiểu vì sao nghệ thuật truyền thống Việt Nam không thể chỉ nhìn bằng con mắt hoài cổ.Thế nhưng, sống trong thời đại công nghiệp hóa, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống Việt Nam đang thu hẹp dần không gian biểu diễn. Một khảo sát năm 2023 của Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia cho thấy hơn 60% nghệ sĩ hát xẩm。ca trù có thu nhập dưới 5 triệu đồng mỗi tháng. Khó khăn chồng chất, từ thiếu vốn đến việc khán giả trẻ chưa quen với nhịp điệu chậm rãi. Nhưng ngược dòng, một số nhóm nghệ sĩ trẻ đã chọn cách “đối thoại” với truyền thống theo cách của họ. Nhóm “Đông Kinh Cổ Nhạc” phối khí lại các làn điệu chèo với nhạc điện tử, đưa lên nền tảng số và thu hút hàng trăm nghìn lượt nghe. Cách làm này gây tranh cãi, nhưng không thể phủ nhận nó giúp nghệ thuật truyền thống Việt Nam tiếp cận một bộ phận công chúng mới.Cá nhân tôi từng dự một buổi biểu diễn múa rối nước tại TP.HCM. Khán giả phần lớn là người nước ngoài, nhưng điều đáng nói là sau chương trình。nhiều bạn trẻ Việt Nam đứng lại hỏi nghệ sĩ về kỹ thuật điều khiển con rối. Họ tò mò thật sự. Điều đó cho thấy nghệ thuật truyền thống Việt Nam không hề “hết thời”, chỉ là cần một cầu nối phù hợp. Các dự án như “Về quê” của đạo diễn Trần Anh Phương hay chuỗi workshop hát then ở Hà Giang đã chứng minh rằng khi người trẻ được chạm vào di sản, họ có thể trở thành những người kế nghiệp bất đắc dĩ. Tôi tin rằng sức sống của nghệ thuật truyền thống Việt Nam nằm ở chính những khoảnh khắc va chạm như thế, chứ không phải ở những tuyên bố bảo tồn mang tính hình thức.Nhìn vào bức tranh toàn cảnh, nghệ thuật truyền thống Việt Nam đang đứng trước cơ hội và thách thức đan xen. Sự lên ngôi của công nghệ số, các nền tảng mạng xã hội và du lịch trải nghiệm mở ra con đường mới để quảng bá. Nhưng nếu không có chiến lược đào tạo bài bản và chính sách hỗ trợ thiết thực, nhiều loại hình có thể mai một. Điều cần làm không phải là đóng khung nghệ thuật truyền thống Việt Nam trong những buổi trình diễn mang tính nghi lễ。

mà là để nó thở, va đập và tự điều chỉnh trong đời sống đương đại. Chỉ khi ấy, hồn cốt của cha ông mới thực sự tiếp tục được truyền lại cho những thế hệ sau.

Bài viết được lấy từ Internet, không đại diện cho quan điểm của trang này, khi sao chép vui lòng ghi rõ nguồn: https://www.docsachviet.xyz/article/815.html

Bài trước:Những câu chuyện tuổi thơ nơi xóm chợ: Khi ký ức không chỉ là quá khứ

Bài sau:Kịch đoàn Thành Lộc: Sân khấu nhỏ, khát vọng lớn giữa lòng Sài Gòn

Bài viết liên quan